[Mono101] Kiếm Nhật Nihonto

Katana là biểu tượng của các samurai Nhật Bản, một trong những tầng lớp chiến binh tinh nhuệ nhất thế giới. Trước thời của súng ống và đại bác thì thanh kiếm chính là vũ khí thượng tôn. Mọi quốc gia trên thế giới đều sử dụng kiếm trong suốt chiều dài lịch sử, nhưng có lẽ không một ai là không biết đến Kiếm nhật (nihonto) – loại kiếm được nhận dạng bởi hình dáng cong đặc trưng và được coi là loại kiếm hảo hạng, sắc bén nhất thế giới.

*** Chữ hán để chỉ Katana là 刀 nghĩa là Đao, một loại binh khí có 1 lưỡi sắc, thường có dạng cong và dùng để chém; còn từ 剣 nghĩa là Kiếm, thì chỉ loại binh khí có 2 lưỡi sắc, to bản và có dạng thẳng, thường dùng để đâm. Thế nên đúng ra, theo như định nghĩa ở trên thì Kiếm Nhật phải được gọi là Đao. Tuy nhiên, bài viết muốn để là Kiếm Nhật để quen gọi với cách gọi và cách hiểu của người Việt khi đề cập đến katana, wakizashi… và một phần để mọi người dễ mường tượng. Nhưng để cho chính xác, rất mong mọi người hiểu cho sự khác biệt về mặt ngôn ngữ này. ***

1. Cấu tạo

Tựu chung lại thì một thanh kiếm gồm có mấy bộ phận như sau:

– Saya: Bao kiếm

– Tsuka : Chuôi kiếm, là chỗ cầm kiếm, có cuốn vải (tạo ra các hình thoi đặc trưng của katana)

– Tsuba : Kiếm cách, ngăn cách giữa cán kiếm và thân kiếm

– Ha: lưỡi kiếm (cạnh sắc của kiếm)

– Mune: cạnh cùn của kiếm

– Menuki : một vật trang trí, cầu may được ở chuôi kiếm (bên dưới lớp vải) và chỉ để lộ họa tiết qua các lỗ hình thoi

– Habaki: một tấm thép ngăn cách phần chuôi với phần thân

– Monouchi: Phần thân trên sắc nhọn của thanh kiếm

– Hamon: vân kiếm, nằm trên lưỡi sắc của kiếm, xuất hiện do công nghề rèn kiếm thời đó.

 2. Phân loại

Katana thực chất là một trong số nhiều loại kiếm Nhật, tuy nhiên, do tính thông dụng của nó trong các tầng lớp Samurai nói chung và với người phương Tây khi lần đầu Nhật mở cửa nên người ta coi Katana để chỉ chung cho kiếm Nhật.

Tachi (太刀)

tachi

Đúng như tên gọi, “Thái đao” – đây là một loại kiếm có bề ngoài to bản. Là loại kiếm sớm nhất được các samurai sử dụng, ra đời vào khoảng cuối thế kỉ thứ 10. Thanh tachi được làm dài hơn bình thường, khoảng 70 – 80 cm. Khi giắt tachi bên hông thì lưỡi kiếm hướng xuống dưới, do cách đeo kiếm này thích hợp với kị binh. Về sau cách đeo kiếm này được gọi là “kiểu tachi” và cũng được nhiều phái kiếm sử dụng.

Katana (刀)

katana

Katana (chữ Hán: 刀 “đao”) ra đời vào khoảng cuối thế kỉ 14, kế thừa và được cải tiến từ tachi. Katana ngắn hơn tachi, có độ dài khoảng 60 – 73 cm. Chính vì thế, katana tỏ ra cơ động hơn trong cận chiến và cách đeo kiếm lưỡi hướng lên trên ra đời. Katana dần thay thế tachi trong đời sống của các samurai và thường được đi chung với một thanh kiếm nữa nhỏ hơn, hợp lại thành một bộ daishou (大小 – đại tiểu) thể hiện danh dự và đẳng cấp của một samurai. Katana dần được thế giới biết đến nhiều hơn vào thời Minh Trị (thế kỉ 19), khi mà nước Nhật tiếp nhận văn hóa phương Tây. Thời gian này cũng chứng kiến những cách thức hiện đại hơn trong việc rèn kiếm thay vì cách truyền thống.

Tantou ( 短刀)

tantou

Tantou hay “đoản đao” là một loại kiếm nhỏ, ngắn, dài từ 15 – 30 cm, có cả loại 1 lưỡi và loại 2 lưỡi. Tantou giống như một loại kiếm phòng thân, nhanh gọn và sắc, ở cự li gần nó có thể rạch nát tấm áo giáp hoặc nhanh chóng được rút ra để đỡ trong những tình huống hiểm nghèo, hay đi cùng với Tachi. Các Samurai thường để bên cạnh mình tantou khi ngủ để đề phòng thích khách.

Wakizashi ( 脇差 )

wakizashi

Wakizashi nghĩa đen là “kiếm đeo bên mình để hỗ trợ”. Wakizashi có độ dài từ 30 – 60 cm, được chia làm 2 loại. Một loại khá lớn, có độ dài xấp xỉ một thanh katana được gọi là Oowakizashi, và một loại nhỏ hơn, xấp xỉ Tantou được gọi là Kowakizashi. Thanh Oowakizashi thường đi cùng với Katana để hợp thành 1 daishou. Còn thanh Kowakizashi thường được sử dụng trong đánh cận chiến, được dùng để chặt đầu đối thủ hoặc sử dụng trong nghi lễ seppuku (mổ bụng tự sát). Wakizashi cũng thường được những người không phải samurai mang bên mình nhằm mục đích phòng thân.

Oodachi ( 大太刀 )

Oodachi

“Đại thái đao”. Đây là loại kiếm rất dài, từ 165 – 178 cm, được sử dụng trong các nghi lễ hiến tế, thờ thần và hầu như không được sử dụng để chiến đấu. Để làm ra thanh Ootachi mất rất nhiều thời gian và công sức, do độ dài ngoại cỡ của nó. Vì vậy, có rất ít thanh Oodachi được làm ra, chủ yếu để phục vụ các ngôi đền, chùa tại Nhật Bản hoặc để minh chứng cho sự giàu có của chủ sở hữu.

Nagamaki ( 長巻 )

Nagamaki

Nagamaki nghĩa đen là “quấn dài”, dùng để chỉ những thành kiếm với chuôi kiếm (tsuka) rất dài. Nagamaki có cách cầm giống với katana và tay phải luôn luôn đặt sát với kiếm cách (miếng phân cách giữa thân kiếm và chuôi kiếm). Nagamaki rất hiệu quả khi đánh với kị binh vì dễ dàng làm họ ngã ngựa. Nagamaki cũng được coi là vũ khí ưa thích của Oda Nobunaga.

Naginata ( 薙刀 )

naginata

Naginata giống giáo hơn là giống kiếm, cũng được coi là biểu tượng cho thời samurai bởi naginata được dùng rất nhiều trên chiến trường, lính bộ binh sẽ giơ ngang naginata tiến về phía trước, mở đường tiến quân. Naginata là một loại vũ khí dùng để phòng thủ rất tốt, nên ngoài các samurai, giới tăng binh ( người tu hành nhưng luyện võ/ kiếm để bảo vệ chùa) và phụ nữ cũng ưa dùng naginata để luyện tập và sử dụng. Naginatajutsu là một môn võ luyện cách sử dụng naginata, và người tham gia phần lớn là phụ nữ.

3. Rèn kiếm

Nếu như kiếm châu Âu chỉ có một lưỡi thép duy nhất thì kiếm Nhật được làm nên từ một loại sắt đã được tinh chế gọi là tamahagane và công đoạn rèn kiếm rất phức tạp. Chủ yếu là đập, tán nhỏ miếng sắt rồi gập lại, nung nóng, rồi lại đập, gập, nung… đến 1 mức mà từ 1 cục sắt được tán lại thành một thanh dài và dẹt, sau đó họ tiếp tục các công đoạn nung, mài,… để ra một thanh kiếm thành phẩm.

Nét cong của thanh kiếm Nhật không phải chỉ do kỹ thuật rèn hay đập mà còn là một biểu trưng văn hoá xuất hiện trên nhiều công trình truyền thống khác, từ mái cong trên đền đài, chùa chiền, cung điện, kể cả thư pháp. Người Nhật vẫn cho rằng nếu đúc một thanh kiếm thẳng băng thì không những thô kệch mà còn quá thực dụng, không nói lên tính nghệ thuật của người võ sĩ. Chính vì thế, họ luôn luôn tạo những đường cong, uốn lên lượn xuống để biến một vũ khí chiến đấu thành một tác phẩm.

Daisho

Nhắc đến nghề rèn kiếm, không thể không nhắc đến Masamune và Muramasa, 2 bậc thầy rèn kiếm trong lịch sử.

Những thanh kiếm của Masamune luôn đẹp và cực kì sắc bén mặc dù khi đó thép rèn kiếm có chất lượng rất tồi. Ông được xem là người đã đem lại sự hoàn hảo cho nghệ thuật rèn kiếm.

Mỗi thanh gươm của Masamune làm ra luôn được đặt tên và là một tác phẩm nghệ thuật. Biểu tượng của lãnh chúa Tokugawa, thanh gươm “Honjo Masamune”, là một trong những thanh gươm nổi tiếng nhất của Masamune.

Những thanh gươm của Masamune thường rất khác biệt với các tác phẩm của Muramasa một thợ rèn kiếm nổi tiếng khác của Nhật Bản. Nhiều tài liệu đã cho rằng Muramasa là học trò của Masamune nhưng thực chất hai ông không sống cùng thời. Muramasa bắt đầu nổi tiếng trong những năm đầu thế kỉ 15. Trong các trò chơi, Muramasa thường là những thanh ma kiếm khát máu, trong khi Masamune lại là thánh kiếm tiêu diệt cái ác.

Có một câu chuyện kể về cuộc thi giữa Muramasa và Masamune xem ai là người rèn kiếm giỏi nhất. Cả hai đều làm việc không mệt mỏi để hoàn thiện tác phẩm của mình. Sau khi hoàn thành cả hai thanh gươm được đem ra thử nghiệm. Thanh gươm của Muramasa có tên là Juuchi Yosamu (10.000 đêm lạnh) và của Masamune là Yawaraka-Te (Bàn tay nhân ái).

Người ta cắm chúng xuống một dòng suối. Thanh gươm của Muramasa cắt tất cả những gì lướt qua nó từ lá cây, những con cá thậm chí còn chia đôi cả dòng nước. Còn thanh kiếm của Masamune thì không cắt bất cứ thứ gì. Sau khi thấy kết quả Muramasa đã lên tiếng cười nhạo cho rằng tài nghệ của Masamune quá kém cỏi.

Nhưng một nhà sư sau khi chứng kiến cuộc thi đã giải thích: thanh gươm đầu tiên cắt tất cả là một thanh gươm sắc nhưng nó là thanh gươm khát máu, không phân biệt được người tốt kẻ xấu. Thanh gươm thứ hai là mới thực sự là thanh gươm báu vì nó không làm tổn thương đến những sinh linh vô tội.

4. Thử kiếm

Thử kiếm hay Tameshigiri (試し斬り) trở nên phổ biến vào thời Edo. Vào thời đó, để thử độ sắc của kiếm, người ta chém các cành trúc, hoặc các goza (hình nhân bện bằng rơm). Ngoài ra các samurai thời xưa còn thử kiếm lên các tử thi hoặc tử tù chờ hành quyết. Khi thử trên người, người ta hay chém nạn nhân theo một đường chéo từ vai xổ xuống hông bên kia (O-kesa) hoặc chém xổ dọc từ trên xuống, cắt đôi người (Kesa-giri).

Có chuyện kể rằng một tử tù đang chuẩn bị nhận án Kesa-giri đã bình thản mà đùa rằng, nếu biết trước sẽ bị hành hình kiểu này, ta đã nuốt một hòn đá to vào bụng để làm hỏng thanh kiếm.

Ngày nay thì người ta chỉ chém thử lên các goza. Và tập trung hơn vào thử trình độ kiếm thuật của người sử dụng thay vì thử kiếm, và vì thế nó còn được gọi là Shizan để phân biệt với cách thử kiếm thời xưa.

chém lên goza để thử kiếm

5. Giai thoại

  • Tương truyền một thanh katana nhất phẩm có thể chém đứt đôi các thanh kiếm thông thường khác.
  • Một thanh kiếm samurai hảo hạng có thể dễ dàng cắt đứt một miếng vải nếu nó chẳng may chạm vào mà không cần động tay chém nó làm gì. (cái này chắc là chém gió )
  • Bạn có thể đỡ được một cú chém từ thanh katana bằng cách dùng tay bắt chặt lưỡi kiếm.
  • Dấu vân tay cũng có thể làm hỏng kiếm. Nếu như để dấu vân tay hay dấu dơ lâu ngày trên kiếm sẽ khiến nó hay bị gỉ, thế nên các samurai thường hay cho kiếm vô bao và mài kiếm, lau kiếm thường xuyên.
  • Trường phái song kiếm được gọi là NitenIchiRyu (二天一流 – Nhị thiên nhất lưu) với sư tổ là Miyamoto Musashi, sử dụng một cặp daisho, thanh katana dài để tấn công và thanh wakizashi ngắn dùng để phòng thủ. Phái kiếm này đến nay vẫn được duy trì.

    một cảnh trong phim 13 Assasins

  • Vào thời Đệ nhị thế chiến, rất nhiều thanh kiếm đã bị phá hủy và vứt xuống biển. Nhiều lính Nhật còn đem wakizashi hoặc katana khi ra chiến trận.
  • Trong lịch sử chiến tranh Trung-Nhật, có sĩ quan Nhật đã từng dùng thanh kiếm chém hàng rào thép gai dễ dàng như chém chuối.
  • Ngày nay, các công dân Nhật Bản có quyền sở hữu các thanh kiếm Nhật đã được đăng kí với Hiệp hội Kiếm Nhật (NihonToKenkai) và sở hữu các giấy tờ cần thiết, nếu không sẽ bị tịch thu và xử phạt. Ngày nay, các gia tộc lâu đời, các đại gia đình thường có giữ một thanh kiếm, được truyền lại từ thời xưa.

4. Giá trị ngày nay

Ngày nay mặc dù kiếm chủ yếu là một vật trang trí hơn là một vũ khí nhưng danh tiếng về độ sắc bén và nét nghệ thuật của nó thì sẽ mãi trường tồn và luôn là niềm tự hào của dân tộc Nhật Bản.

…một người đàn ông ngồi trong tư thế thư thái, buổi chiều tĩnh lặng. Ông lấy kiếm ra khỏi bao bằng lụa, giữ bao kiếm trên tay trái im lặng và thận trọng, dùng tay phải rút thanh kiếm ra một cách kiên quyết nhưng từ từ và đầy cung kính. Ông nâng thanh kiếm lên, giơ ra chỗ sáng, ngắm nhìn ánh thép từ đốc kiếm lên mũi một cách chậm rãi. Sau đó ông dùng một bao nhỏ mày đỏ, trong đựng bột đá, lau hết dầu cũ phủ lên lưỡi kiếm và dùng loại giấy dày của Nhật Bản để lau lại lần nữa. Lúc này, thanh kiếm đạt đến độ sáng nhất của nó và đủ để chứng minh cho các nhà phê bình thấy rằng, xét về tài nghệ, chất lượng và vẻ đẹp khi tuốt trần, những thanh kiếm Nhật bản hơn hẳn bất cứ thanh kiếm nào khác…

Nguồn:

Japan101: Samurai Sword Types“, by Jimi Okelana, axiommagazine.jp, February 8, 2013

Making a Masterpiece“, pbs.org

Những bước chế tạo một thanh kiếm katana Nhật“, cungdao.com, December 6, 2014

Facts and Myths about Japanese Swords“, by GaijinPot, injapan.gaijinpot.com, August 2, 2012

Sự khác nhau của kiếm Việt Nam với kiếm Nhật Bản và Trung Quốc“, by Tô Thiện, vothuat.vn, November 2014

“Nihonto – Kiếm Nhật Bản”, Jean Rene Cholley, sách Văn hóa Nhật Bản (NXB Thế giới), trang 438 – 440, 2014

Tameshigiri“, Wikipedia

Kiếm Nhật“, Wikipedia

Katana“, Wikipedia

The Sword Maker – Korehira Watan, one of Japan’s last remaining Swordsmiths“, The Documentary Network, Youtube, January 8, 2013

Advertisements

3 thoughts on “[Mono101] Kiếm Nhật Nihonto

  1. Tôi đang bị rối ở điểm này, tôi thấy trong bài viết ghi theo tiếng Nhật chữ Kanjij mà bài viết vẫn gọi là Kiếm Nhật vui lòng giải thích cho rõ, tôi nghĩ chỉ là thói quen gọi như gọi Kiếm của Việt Nam ta loại kiếm cong 1 lưỡi.
    Katana (刀): gọi là Đao mới đúng
    Nihoto hay Nihotou – 日本刀: gọi là Đao Nhật Bản
    Tachi (太刀): Thái Đao
    Tantou ( 短刀) : Đoản Đao….

    vì rõ ràng từ 刀 nghĩa là Đao (thuần việt gọi là Dao) vì có 1 lưỡi bén
    còn từ Kiếm phải là 劍 tiếng nhật đọc là Kendo, từ Nhật cổ thì ghi là 剣 cũng gọi Kiếm nhưng nó hàm ý là loại binh khi có 1 lưỡi bén khác với chữ 劍 là binh khí có 2 lưỡi bén.
    Vài thắc mắc xin chỉ giáo. cám ơn

    Liked by 1 person

    • Đúng như bạn nói, Đao là binh khí có 1 cạnh sắc (thường bị cong) và Kiếm là binh khí có 2 cạnh sắc (thẳng, to bản), cho nên Katana phải gọi là Đao Nhật thì mới chính xác.
      Có 2 lí do mà mình để là kiếm Nhật:
      – Thật ra là từ trước tới nay mình không có để ý đến sự khác nhau giữa đao và kiếm mà chỉ quen gọi Katana là kiếm Nhật. Khi dịch thì mình để là kiếm Nhật, vì thiết nghĩ cái tên này quen thuộc hơn với đa phần người Việt.
      – Một điều nữa là bản thân bài dịch từ nhiều nguồn khác nhau, có cả tiếng Anh và trong tiếng Anh thì đao hay kiếm họ đều gọi là Sword (trong trường hợp này là Japanese Sword) nên mình cũng không có nghĩ tới cách gọi Đao của nó. Mong bạn thông cảm.
      Mình sẽ update thêm một số thông tin đính chính như của bạn vào để tăng thêm độ chính xác cho bài viết.
      Cảm ơn những ý kiến đóng góp của bạn 🙂

      Số lượt thích

Để lại bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s