Rèn luyện và nuôi dạy con cái ở Nhật Bản

Rèn luyện đóng vai trò quan trọng xuyên suốt quá trình phát triển của trẻ em .Tuy nhiên, đối với những đứa trẻ thì các hình thức rèn luyện đơn giản là sức ép khiến chúng lớn lên.

Một số bậc phụ huynh kỳ vọng quá nhiều ở 1 đứa trẻ. Họ mong muốn con em mình học tập, thích nghi với các quy luật của xã hội mà không có những hành động đáng xấu hổ hay gây rắc rối cho người khác. Cũng là lẽ tự nhiên khi cha mẹ mong muốn con cái họ hòa nhập tốt với xã hội. Tuy nhiên, việc cha mẹ quan tâm quá nhiều tới những điều người khác nghĩ sẽ ảnh hưởng tới cách họ rèn luyện con cái, hoặc là quá nghiêm khắc, hoặc quá dễ dãi. Bởi vậy, ý nghĩa và mục đích của việc rèn luyện nên xuất phát từ quan điểm phát triển trẻ em.

Ý nghĩa và mục đích của việc rèn luyện trẻ em

Khi tìm kiếm từ “shitsuke” – có nghĩa là rèn luyện trong từ điển Koujien, bạn có thể tìm thấy bốn định nghĩa: (1) Thiết lập một thứ gì cố định hoặc cho tương lai. (2) Gieo hạt theo một đường thẳng. (3) Phát triển cách ứng xử tốt và lịch sự bằng cách hướng dẫn và thực hành. (4) Lược (may vải bằng mũi chỉ dài để tạm giữ các mảnh vải lại với nhau). Như vậy, đặc điểm chung của tất cả những định nghĩa trên đều là “chuẩn bị trước để ngăn một thứ gì đó khỏi bị cong vênh”.

Có lẽ hầu hết người Nhật Bản muốn ám chỉ định nghĩa thứ ba khi họ đề cập tới “shisuke”. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả bài viết thì từ này có thể được bắt nguồn từ định nghĩa thứ tư – nghĩa là “Những mũi chỉ dùng để tạm giữ các mảnh vải sẽ được gỡ bỏ sau khi việc khâu vá được hoàn tất”. Nói cách khác, những thứ không cần thiết dần dần cần phải được gỡ bỏ.

Việc rèn luyện trẻ em cũng vậy. Cha mẹ kèm cặp, hướng dẫn con cái họ, giúp con cái họ hình thành những thói quen và cả những hành vi. Đây là điều hữu ích, tuy nhiên điều này sẽ dần trở nên ít cần thiết hơn khi những đứa trẻ có khả năng điều khiển hành vi cũng như thói quen của chính chúng.

Mục đích của việc rèn luyện con cái nên được xem là sự hỗ trợ của người lớn nhằm khuyến khích trẻ em phát triển từ giai đoạn “dị trị” – tuân theo những nguyên tắc của người khác hơn là của bản thân, cho đến giai đoạn “tự trị” – biết suy nghĩ và tự đưa ra quyết định. Để quá trình phát triển này diễn ra, mỗi gia đình lại có những phương pháp riêng. Tuy nhiên, đặt lên hàng đầu là việc dạy trẻ cách ứng xử xã hội thông thường, tránh gây ra rắc rối cho người khác; phát triển lòng bao dung và tính nhân văn; giáo dục trẻ không được coi thường, khinh miệt hay chỉ trích người khác.

Mục đích của việc rèn luyện sẽ thay đổi theo lứa tuổi của trẻ cũng như những tiêu chuẩn của các bậc phụ huynh và gia đình. Dù sao đi nữa, điều quan trọng nhất chính là cha mẹ luôn cố gắng khuyến khích con em mình tập cách suy nghĩ độc lập, đưa ra quyết định và hành động khi chúng lớn lên. Cuối cùng, cha mẹ  cần giảm dần đi sự hỗ trợ của họ từng chút một cho tới khi con cái có thể tự đứng vững một mình.

Nhiều bậc cha mẹ cho rằng điều quan trọng nhất mà trẻ em cần học là làm thế nào để thích nghi được với các quy tắc xã hội và ứng xử mà không bị chỉ trích bởi những người xung quanh. Tuy nhiên đây chỉ là cái nhìn từ phía những người trưởng thành. Cha mẹ không nên quá lo lắng về việc liệu con cái có trở thành một người thích nghi được với xã hội hay không.

Rèn luyện một cách tích cực

Sự hỗ trợ của cha mẹ trong việc rèn luyện con cái rất quan trọng. Thời thơ ấu, trẻ em cần được mẹ chăm sóc ở mọi khía cạnh. Khoảng 2 tuổi, trẻ bắt đầu hình thành những thói quen thường ngày cùng với sự giúp đỡ của mẹ, ví dụ như thay quần áo, ăn, tự đi vệ sinh và đánh răng… Trẻ con ở độ tuổi này thường thích tự làm những việc kể trên, và trong những trường hợp như vậy, nên khuyến khích chúng. Khi công việc hoàn tất, hãy dành lời khen cho sự cố gắng của bọn trẻ, hãy nói với chúng rằng “Con đã tự làm được tất cả, thật tuyệt vời”. Không nên mắng mỏ con cái ngay cả khi chúng làm không tốt, hãy bỏ qua sự buồn bã cũng như kiềm chế cơn giận. Không nên nói rằng “Thấy không, con quá bé để có thể làm những việc này”. Thay vào đó, hãy nằm lấy tay bọn trẻ và khuyến khích chúng vươn lên.

Một số đứa trẻ gặp khó khăn trong việc thắt nút, kéo phéc-mơ-tuya áo khoác, và điều này sẽ tiếp diễn cho tới khi chúng phát triển đủ để kiểm soát cử động tốt. Cha mẹ nên liên tục giúp đỡ và khuyến khích chúng, không nên gò ép và hãy luôn chú ý tới tốc độ phát triển của trẻ .

Ở tuổi thứ 3 và thứ tư, trẻ đã thiết lập được những thói quen hàng ngày như thói quen tự ăn uống tại bàn, tự đi vệ sinh, đánh răng và rửa mặt hay ngủ một mình buổi tối. Tất nhiên, đây chỉ là những điểm chung nhất, mỗi đứa trẻ khác nhau có tốc độ phát triển khác nhau, vì thế đừng lo lắng nếu con bạn tụt hậu hơn một chút. Ở giai đoạn này, trẻ đang dần trở nên độc lập khỏi mẹ thông qua các mối quan hệ mới với bạn bè hay những người lớn xung quanh ngoài những thành viên trong gia đình chẳng hạn như người trông trẻ. Giờ đây, bọn trẻ có thể dành cả ngày ở nhà trẻ mà không cần đến mẹ, hay có thể đến chơi nhà bạn một mình. Nhiều đứa trẻ thậm chí có thể giúp mẹ việc nhà, vì thế hãy khuyến khích bọn trẻ làm những việc nhà mà chúng có thể như giúp mẹ chuẩn bị bàn ăn hay đồ ăn nhẹ buổi chiều. Thói quen tham gia vào các hoạt động gia đình như chuẩn bị đồ ăn, dọn dẹp đồ chơi và quần áo trong phòng là những trải nghiệm tốt đối với trẻ.

Khoảng năm tuổi, trẻ có thể chăm sóc em trai hoặc em gái hay chạy một vài việc lặt vặt cho mẹ. Các bà mẹ hẳn rất hài lòng khi chứng kiến con cái họ phát triển tới mức có thể đảm nhiệm những vai trò nhất định trong gia đình. Trẻ em ở độ tuổi này đã có khả năng suy nghĩ và đưa ra quyết định của riêng mình trong từng tình huống nhất định, đồng thời điều chỉnh bản thân với môi trường xung quanh chúng, điều mà trước đó được kiểm soát bởi người lớn. Những đứa trẻ cũng có khả năng hiểu “ngôn ngữ hiển thị” (nghĩa là có thể kiểm soát sự bùng nổ cảm xúc hay có khả năng tác động lên những đứa trẻ khác). Vì vậy ở độ tuổi này, trẻ em trở nên nhạy cảm hơn khi tiếp xúc với bạn bè xung quanh, có khả năng kiềm chế những hành vi ích kỷ và sẵn sàng chia sẻ đồ chơi với bạn bè.

Tóm lại, bố mẹ cần hiểu được mục đích của việc rèn luyện con cái là để hỗ trợ cho sự tự chủ của chúng, dạy chúng cách sống tốt nhất.Trong suốt quá trình trẻ lớn lên và mở rộng thế giới của riêng chúng, cha mẹ không nên áp đặt các tiêu chí và kỳ vọng của mình lên con cái. Rèn luyện một cách độc đoán có thể biến việc rèn luyện trở thành gánh nặng đối với trẻ, làm giảm đi sự phát triển tự nhiên cũng như khả năng suy nghĩ, tự đưa ra quyết định của trẻ. Bởi vậy, cần suy nghĩ cẩn thận về phương pháp rèn luyện sao cho trẻ tự tin và độc lập khi đến tuổi trưởng thành.

Rèn luyện trẻ em ở Nhật Bản: nghiên cứu so sánh với Hàn Quốc và Trung Quốc

Liệu có phải sự khác biệt về điều kiện sống của trẻ em ảnh hưởng tới thành tích học tập của chúng hay không?

Trẻ em ở những gia đình khác nhau có những yếu tố khác biệt về thu nhập của cha mẹ, số tiền đầu tư vào giáo dục, phương pháp rèn luyện hay số lượng sách có trong nhà. Có một nghiên cứu so sánh xem điều kiện sống ảnh hưởng như thế nào đến kỹ năng đọc, viết, từ vựng và thành tích học tập ở trường tiểu học của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với trẻ em được khảo sát tại 3 quốc gia, thu nhập hộ gia đình ít ảnh hưởng đến kỹ năng đọc viết của trẻ cho tới khi trẻ 5 tuổi, ngược lại phương pháp giáo dục của cha mẹ và lượng sách trong gia đình lại không ngừng tác động tới sự phát triển về từ vựng của trẻ. Bên cạnh đó, những phương pháp rèn luyện khác nhau cũng ảnh hưởng theo những cách khác nhau, ví dụ như trẻ em ở Nhật và Hàn Quốc được giáo dục theo hình thức “chia sẻ – hoạt động” – tức là cha mẹ gần gũi con cái, cùng dành thời gian chia sẻ và tham gia các hoạt động, có được vốn từ vựng phong phú hơn.

Ngược lại, ở Trung Quốc, trẻ em được giáo dục đan xem giữa “chia sẻ-hoạt động” và “độc tài” – tức là trẻ buộc phải tuân theo những lời chỉ dạy của người lớn, cho thấy vốn từ vựng cao.

Bên cạnh đó, có số liệu kết quả so sánh của một thử nghiệm xóa mù chữ đối với trẻ em trong kỳ học thứ 3 năm đầu tiên của các trường tiểu học Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Bài kiểm tra bao gồm kỹ năng đọc hiểu, lý luận của một bài tam luận, sao chép và viết chính tả bằng chữ Hán. Với trẻ em ở Nhật Bản và Hàn Quốc, không thể tìm thấy mối liên hệ giữa kết quả các bài kiểm tra và tình hình tài chính của cha mẹ chúng (ví dụ như thu nhập hộ gia đình, số tiền đầu tư vào giáo dục sớm hay đi học tại các trường dạy thêm). Trái ngược với hoàn cảnh tài chính, các hình thức giáo dục tại gia cũng như các phương pháp rèn luyện tác động đáng kể tới kết quả kiểm tra của các em. Chính xác hơn, trẻ em được giáo dục theo phương pháp “chia sẻ hoạt động” có vốn từ vựng phong phú, có điểm thi cao hơn trong khi những em được giáo dục theo phương pháp “ độc tài” lại có vốn từ vụng nghèo nàn với điểm thi thấp hơn.

Điều này cho thấy tầm quan trọng trong phương pháp giáo dục, đặc biệt là ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Bằng cách cẩn thận lựa chọn 1 chế độ rèn luyện, cha mẹ có thể giảm thiểu hay khắc phục những tác động về mặt tài chính (thu nhập hộ gia đình vào giáo dục) đối với sự phát triển của con em mình. Nói cách khác, các bà mẹ không thể thay đổi nền giáo dục hay thu nhập của các ông chồng, nhưng họ có thể lựa chọn cách giao tiếp với con cái họ. Quan điểm của họ, cách rèn luyện của họ có thể thay đổi cuộc đời đứa trẻ của họ.

Cha mẹ, những người yêu thích đọc sách và sẵn sang đọc truyện cho con mình trong suốt thời thơ ấu của chúng, cùng chúng trò chuyện, tạo sự kết nối hạnh phúc trong gia đình, bất kể thu nhập hay số tiền họ đầu tư và giáo dục là bao nhiêu, đửa trẻ vẫn phát triển đầy đủ kỹ năng từ vựng cũng như có tư duy độc lập. Đặc biệt, thái độ của cha mẹ đối với con cái, cách họ cư xử với con cái như một người trưởng thành sẽ tăng tính tự chủ của trẻ.

Từ tất cả những lý do trên , có 3 điều mà các bậc phụ huynh – những người đang nuôi dạy con cái cần chú ý. Thứ nhất, học chữ không chỉ đơn thuần là đọc và viết mà xa hơn nữa, nó còn là tính linh hoạt trong vệc sử dụng ngôn ngữ hiệu quả. Bởi vậy, việc giúp trẻ phát triển tư duy sáng tạo trong thời thơ ấu là rất cần thiết. Thứ hai, từ vựng là một phần quan trọng để có được nền tảng học tập xuất sắc, và điều này được nuôi dưỡng thông qua phương pháp giáo dục “chia sẻ – hoạt động” với sự gần gũi giữa cha mẹ và con cái. Cuối cùng, sự tác động về chênh lệch kinh tế đối với giáo dục có thể được giảm thiểu tùy theo phương pháp rèn luyện của cha mẹ. Điều quan trọng chính là các bậc phụ huynh nên tôn trọng tính cách cũng như quyền tự chủ của con cái như một người trưởng thành, hãy quan tâm đến sở thích và suy nghĩ của con, luôn chia sẻ và tạo nên một bầu không khí gần gũi trong gia đình.

Giáo dục tiền tiểu học

Mô hình gia đình Nhật Bản khá ổn định. Mặc dù tỷ lệ ly hôn tại quốc gia này đã gia tăng từ năm 1960, nhưng vẫn tương đối thấp so với Hoa Kỳ. Năm 1980 số vụ ly hôn tại Nhật Bản là 0,12% trong khi tại Hoa Kỳ con số này là 0,52%. Ở Nhật Bản, các gia đình đơn thân chỉ có bố hoặc mẹ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 6%.

Khoảng một nửa các gia đình Nhật Bản có đẩy đủ cả cha mẹ và con cái. Mô hình gia đình điển hình này đã nhỏ và hiện đại hơn rất nhiều so với một hai thế hệ trước. Tại Nhật Bản, hơn một nửa dân số đang sống trong những khu đô thị lớn và cứ sáu gia đình thì chỉ có một gia đình bao gồm 3 thế hệ.

Hầu hết nhà và căn hộ chung cư tại Nhật có kích thước nhỏ hơn so với Mỹ bởi chi phí đất đai ở vùng đô thị Nhật khá đắt đỏ. Phần lớn nhà ở tương đối hiện đại với đầy đủ trang thiết bị gia dụng thông thường.Đối với hầu hết trẻ em Nhật Bản, việc xem tivi và có các đồ chơi, vật dụng hiện đại nhất được coi là điều đương nhiên.

Có một sự phân công rõ ràng về vai trò của mỗi thành viên trong gia đình Nhật Bản. Người đàn ông tập trung cho công việc, bao gồm việc mở rộng quan hệ xã hội đối với đồng nghiệp nam sau giờ làm việc. Ngược lại, nhiệm vụ của người phụ nữ là tập trung chủ yếu cho gia đình, đặc biệt là việc nuôi dạy con cái. Vai trò tập trung cho gia đình của người phụ nữ càng được củng cố hơn khi cơ hội tìm kiếm công việc lâu dài và ổn định của họ rất ít.

Mặc dù phần lớn người Nhật đồng tình với quan điểm rằng nhiệm vụ của người vợ là chăm lo cho gia đình và công việc không nên gây ảnh hưởng tới nhiệm vụ chính của họ là chăm sóc chồng con, phụ nữ vẫn chiếm tỷ lệ 40% lực lượng lao động. Hơn một nửa phụ nữ đã lập gia đình và các bà mẹ có con nhỏ chọn công việc bán thời gian để họ có thể ở nhà khi con cái không phải đến trường. Thu nhập mà các bà mẹ kiếm được nhờ công việc thường được sử dụng để đáp ứng các chi phí giáo dục cho con cái.

Các cặp vợ chồng Nhật Bản đều đồng ý về vai trò làm cha mẹ của mình và chia sẻ niềm tin rằng trẻ em chính là trung tâm của hôn nhân.Vì vậy, giáo dục trẻ em chính là chức năng quan trọng nhất trong gia đình Nhật Bản.

Trước đây, người cha trong gia đình Nhật Bản được xem như là một người nghiêm khắc và có ảnh hưởng lớn. Có thể thấy qua câu châm ngôn Nhật đề cập tới bốn điều đáng sợ trong cuộc sống. Đó là động đất, sấm sét, lửa và người cha. Mẹ là người dạy dỗ con cái trong khi cha là người sẽ kỷ luật nếu con cái không vâng lời. Tuy nhiên có vẻ như trong xã hội hiện đại quyền lực của người cha đã giảm đi nhiều

Trong các gia đình công chức tại Nhật Bản, người cha dường như là một vị khách trong chính ngôi nhà của mình. Họ trở về nhà vào buổi tối sau khi con đã đi ngủ. Mặc dù người cha đóng vai trò nhất định và có nhưng mối quan tâm tích cực trong vấn đề giáo dục, nhưng người chịu trách nhiệm chính về vấn đề dạy dỗ giáo dục vẫn là các bà mẹ. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bà mẹ Nhật Bản đặt chủ đề nuôi dạy con cái lên đầu danh sách mối quan tâm của họ

Ở Nhật, mối quan hệ giữa mẹ và con cái đặc biệt gần gũi. Các bà mẹ Nhật Bản luôn cố gắng xoa dịu con cái, nuôi dưỡng một mối quan hệ phụ thuộc thân mật. Mục đích của việc này là để những đứa trẻ tuân thủ một cách tự nguyện những mong muốn của người mẹ và hình thành thói quen này theo thời gian. Mục đích là để con cái có ý thức sâu sắc về trách nhiệm đối với người mẹ và đối với gia đình. Đây chính là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy động lực học tập cho trẻ em tại Nhật Bản

Người Nhật tin rằng ngôi nhà là nơi thoải mái để trẻ có thể tự do thể hiện cảm xúc và những hành vi ứng xử mà chúng sẽ thể hiện trong các tình huống xã hội thực tế. Mặc dù việc đào tạo trẻ bao gồm cả cách cư xử và hành vi xã hội, nhưng trẻ vẫn có rất ít cơ hội để tiếp xúc thực tế cho đến khi chúng đi nhà trẻ

Việc người mẹ có hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình hay không gắn liền với thành tích học tập của con cái, và người mẹ luôn nỗ lực hết sức để giúp con cái mình. Bên cạnh đó, cũng có những áp lực đáng kể đối với người mẹ như là sự công nhận của xã hội đối với người phụ nữ phụ thuộc phần lớn vào thành tích học tập ở trường của con cái họ

Một số bà mẹ Nhật Bản đã được ghi nhận công lao dành cho mối quan tâm đặc biệt cũng như việc tham gia giáo dục con em mình. Rất nhiều những câu chuyện về những người mẹ tận tâm vì con cái. Hiện tượng này có thể phần nào xuất phát từ sự phân biệt vai trò rõ nét giữa vợ và chồng. Một số người Nhật Bản cho rằng người cha nên gánh vác san sẻ một phần thay vì đổ hết trách nhiệm cho người phụ nữ. Chính những mối bận tâm bên ngoài xã hội của người cha đã buộc người mẹ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc giáo dục con cái.

Quá trình chuyển đổi từ việc ở nhà sang việc làm quen với thể chế giáo dục chính quy là sự thay đổi môi trường một cách triệt để đối với trẻ em Nhật Bản. Tuy nhiên, nhờ có giáo dục mầm non mà trẻ em có thể nhanh chóng xã hội hóa và thích nghi với mối trường mới. Sự biến đổi từ chỗ dù nhiều hay ít đang là trung tâm của sự  quan tâm trong gia đình chuyển sang tham gia vào cuộc sống ở trường học với việc phải chia sẻ, có trách nhiệm nhóm và được trải nghiệm dần thông qua giai đoạn mầm non theo định hướng xã hội.

Phụ huynh Nhật Bản đặc biệt tin tưởng vào giáo dục mầm non mặc dù đây không phải là một phần bắt buộc trong giáo dục, trái ngược lại với Mỹ. Hầu hết các trường mầm non tại Nhật Bản có hai hình thức: trường mẫu giáo và nhà trẻ. Nhà trẻ (yochien) hoạt động dưới sự giám sát của Bộ Văn hóa, dành cho trẻ em ở độ tuổi từ 3-5 tuổi, nhận trông trẻ  khoảng 5 tiếng/ ngày. Trường mẫu giáo (hoikuen được thành lập bởi Quỹ Phúc lợi, chủ yếu dành cho trẻ em ở những gia đình có mẹ đang đi làm. Các dạng trường mầm non này dành cho trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi và nhận trông giữ 8 tiếng/ngày. Ở mọi khía cạnh, hai loại hình tổ chức này có nhiều điểm tương đồng như cơ sở vật chất, chương trình giảng dạy, phong cách giảng dạy và các hoạt động trong lớp học.

Tỷ lệ trẻ em Nhật Bản theo học trường mầm non rất lớn, 40% trẻ em 3 tuổi và 92% trẻ em từ 4-5 tuổi tham dự hoặc trường mẫu giáo, hoặc nhà trẻ. Hiếm ai để con thôi học sau khi đã tham gia những lớp học này.

Cả hai loại hình trường học trên đều mất học phí. Các phụ huynh cho rằng nhà trẻ có mức giá phù hợp với thu nhập của họ. Ngoài các khoản thu từ học phí, các tổ chức tiền tiểu học này còn nhận được trợ cấp từ Chính phủ.

Giáo viên và môi trường học tập

Giáo viên trong các trường mầm non Nhật Bản là những giáo viên chuyên nghiệp và được cấp chứng chỉ. Phần lớn họ đều là những phụ nữ dưới 25 tuổi và tốt ngiệp cao đẳng. Bằng cấp của họ bao gồm việc được đào tạo giảng dạy cũng như những nghiệp vụ có liên quan, bao gồm những môn học như nguyên tắc giáo dục, tâm lý trẻ em, thực hành giảng dạy, những môn như âm nhạc, thể dục và nghệ thuật. Mặc dù nghiêm túc và say mê công việc, nhưng nhiều người vẫn rời khỏi trường mầm non sau khi kết hôn để nuôi dạy con cái riêng của mình.

Gần như cả ngày, các trường mầm non và các trung tâm giữ trẻ là nơi thoải mái, thư giãn và náo nhiệt. Phụ huynh và giáo viên luôn khuyến khích trẻ em tới trường. Sân trường và các lớp học luôn vang lên những âm thanh náo nhiệt và những hoạt động hấp dẫn.

Các lớp học mầm non theo tiêu chuẩn của Mỹ rất lớn, trung bình có 30 học sinh (và chỉ có một giáo viên) mỗi lớp. Lớp học lớn này được các giáo viên và phụ huynh ưa thích bởi họ cho rằng nó mang lại cho trẻ em cơ hội học hỏi, tương tác nhóm và giúp trẻ nhiệt tình trong các hoạt động tập thể.  Giáo viên hạn chế việc chỉ đạo các nhóm nhằm khuyến khích lớp học hoạt động như một nhóm. Cách giúp trẻ em nghe lời giáo viên được lấy cảm hứng từ những kinh nghiệm của người mẹ. Đó là cách những bà mẹ thuyết phục con cái để chúng hiểu và tự nguyện thực hiện thay vì buộc chúng phải tuân theo.

Giáo viên không vội vàng can thiệp cũng như sửa chữa lỗi lầm của trẻ. Họ khuyến khích trẻ em tự tìm cách sửa chữa lỗi lầm. Làm việc theo nhóm, thông qua đó nhận thức và giải quyết vấn đề cá nhân được xem là một phần quan trọng ở giai đoạn này

Chương trình giảng dạy

Chương trình giảng dạy của giáo dục mầm non chủ yếu là phi học thuật. Sự tương tác của trẻ được chú trọng, thể hiện qua việc tương tác với các sự vật. Các trò chõi týõng tác, vui chơi tự do và các công việc lặt vặt là phần quan trọng của mỗi ngày. Trẻ em được khuyến khích tham gia vào các hoạt động diễn ra xung quanh. Điều này nhấn mạnh vào phát triển các kĩ năng xã hội từ thói quen cho đến thái độ.

Việc nhận biết chữ cái, con số cùng với những kĩ năng bổ trợ cho việc đọc không có trong chương trình giải dạy chính quy được quy định bởi Bộ Giáo dục và Quỹ Phúc lợi.  Có sáu lĩnh vực được nhấn mạnh trong các hoạt động lớp học: y tế, đời sống xã hội, tự nhiên, ngôn ngữ, âm nhạc và hàng thủ công. Hầu hết các trường mầm non và nhà trẻ thực hiện theo các hướng dẫn này.

Trong quá trình giảng dạy, rõ ràng các kỹ năng đọc và viết là không phổ biến, trẻ em được khuyến khích nói và hiểu ngôn ngữ bằng những câu chuyện minh họa và truyện tranh. Nhấn mạnh vào việc tự thể hiện và sử dụng đúng ngôn ngữ.

Trong âm nhạc, các em hát và làm quen với nhạc cụ đơn giản. Trong hầu hết các trường mầm non, các lớp học dành nhiều tuần để chuẩn bị cho một chương trình biểu diễn hàng năm cho cha mẹ và hàng xóm. Sân khấu thu nhỏ với đầy đủ cảnh quan trang phục, và đệm đàn piano là những màn trình diễn phổ biến.

Gấp giấy truyền thống là một trong những yếu tố quan trọng trong môn thủ công. Trẻ em 3 tuổi được coi là đủ lớn để học cách gấp máy bay, tàu thuyền, hay những chiếc cốc. Các em lớn hơn học những kỹ năng phức tạp hơn như tạo hình chim cánh cụt, cần trục hay nhiều vật khác

Trong suốt quá trình giáo dục mầm non tiểu học Nhật Bản, trẻ em học các kĩ năng làm việc nhóm. Mục đích của việc này là để giúp các em có ý thức quan tâm đến bạn bè xung quanh cũng như làm quen với việc chuẩn bị học tiểu học. Kỹ năng làm việc nhóm này được áp dụng  trong suốt những năm học sau này cũng nhu áp dụng cho cuộc sống về sau.

Mặc dù nói năng thoải mái và hoạt động thể chất được khuyến khích trong thời gian chơi, nhưng một ngày thường được xen kẽ với quãng thời gian ngắn ngủi dành cho nghi thức trang nghiêm, đó là khi toàn bộ lớp học đứng lặng lẽ tập trung chú ý vào giáo viên. Trẻ em học cách phân biệt các cấp khác nhau của trật tự kỷ cương thích hợp ở thời điểm khác nhau trong một ngày học.

Vì thế các trường mầm non Nhật Bản đã cho các em những hành trang quan trọng về hành vi cũng như thói quen của một học sinh tiểu học. Trẻ được học cách sắp xếp, quản lý đồ dùng học tập của chúng một cách trật tự, gọn gàng; học cách tự chăm sóc bản thân, đeo phù hiệu trường, mũ và mặc đồng phục theo đúng quy định.

Giáo dục không chính quy

Trường mầm non và nhà trẻ không phải là những nơi duy nhất giáo dục trẻ mầm non tại Nhật Bản. Ngoài những nơi này, các em còn tham dự nhiều khóa học ngoại khóa phổ biến khác như bơi lội, thể dục dụng cụ và piano. Các bà mẹ tin rằng tham gia những môn học này chính là cơ hội khuyến khích con em họ rèn luyện thể thao.

So với những chương trình giảng dạy mầm non điển hình, chú trọng vào các kĩ năng xã hội, thì những bài học thể chất như thế giúp trẻ làm quen với cách học bài bản và chú tâm hơn. Phương pháp dạy nhạc của Suzuki là một trong những ví dụ điển hình của các bài học loại này. Những bài học như vậy là tiền thân của các lớp học như bồi dưỡng ngoại khóa, các khóa học củng cố kiến thức, luyện thi có liên quan mà những năm học tiểu học và trung học sau đó trở nên phổ biến.

Giáo dục mầm non và gia đình

Mối quan hệ thân thiết gần gũi giữa mẹ và con, cũng như nét văn hóa và trách nhiệm của cha mẹ đối với việc giáo dục con cái đã thúc đẩy người mẹ cung cấp một nền tảng vững chắc để trẻ bắt đầu học tiểu học.

Trong những năm mẫu giáo, các bà mẹ khuyến khích con học vẽ, làm những đồ chơi đơn giản bằng giấy, kéo, hồ dán…cũng như những hoạt động liên quan bổ trợ kĩ năng cơ bản về đọc và đếm. Các bà mẹ muốn đánh thức mối quan tâm tự nhiên của con em mình đối với chữ cái và các con số hơn là nhờ vào các khóa học chuyên sâu về đọc và viết. Bằng cách trả lời các câu hỏi, mua báo thiếu nhi và những quyển sách giải trí hay trò chơi nhận biết chữ cái và ngữ âm truyền thống, các bà mẹ kích thích sự quan tâm của con em mình trong việc học đọc. Chính môi trường mầm non tại nhà này đã giúp trẻ em Nhật Bản khi vào lớp 1 có thể dọc và viết 48 ký hiệu ngữ âm tiếng Nhật cơ bản

Một hệ quả tất yếu và quan trọng trong giáo dục mầm non đó là hình thành thói quen hỗ trợ con cái trong quá trình học tập của phụ nữ Nhật Bản. Giáo dục mầm non tại Nhật đòi hỏi sự tận tụy của các bà mẹ. Có rất nhiều thứ như cặp sách, giấy gói cơm trưa và nhiều thứ tương tự như thế phải làm bằng tay. Hàng ngày, trẻ được mẹ đưa tới tận cổng trường hay trạm xe buýt, hay ngồi sau xe đạp hoặc xe máy của các bà mẹ

Người mẹ cũng trực tiếp tham gia giáo dục con cái cùng với nhà trường theo nhiều các khác nhau. Hàng ngày, trẻ mang theo một quyển sổ mà mẹ và giáo viên thay phiên ghi chú các vấn đề liên quan đến sức khỏe, tâm trạng, các hoạt động ở nhà và ở trường của trẻ. Thông thường, cứ mỗi tháng lại có 2 cuộc họp phụ huynh hoặc các câu lạc bộ dành cho các bà mẹ gặp gỡ thường xuyên và bàn các chủ đề xoay quanh vấn đề trường học như vườn tược hay chuẩn bị bữa trưa nóng cho con. Với nhiều việc như vậy, việc gửi con vào trường mẫu giáo là một các tiết kiệm thời gian cho các bà mẹ Nhật Bản.

Mặc dù các trung tâm giữ trẻ mở ra nhằm tạo điều kiện cho những phụ nữ phải đi làm, thì những phụ nữ này vẫn phải tham gia và chú tâm vào công việc mà một người mẹ phải để tâm.

Trái ngược với nhiều trường mầm non tại Hoa Kỳ, cha mẹ Nhật Bản không bao giờ  có chức năng như một trợ lý giáo viên hay phụ tá trong lớp học. Vai trò của họ là hỗ trợ thêm cho các hoạt động của trẻ nhằm chứng minh sự giúp đỡ và quan tâm của họ. Đối với cha mẹ (phần lớn là các bà mẹ) thì thói quen và thái độ này sẽ duy trì suốt những năm tháng tới trường của con em họ.

Áp lực đối với giáo dục mầm non tiểu học

Giáo dục mầm non tiểu học ở Nhật Bản đang  cho thấy những áp lực được tạo nên từ mối quan tâm của cha mẹ đối với thành tích học tập của con. Ngày càng nhiều bậc phụ huynh cho rằng sự giáo dục phi học thuật tại trường mầm non và nhà trẻ không đủ cho con cái họ. Họ lo lắng rằng con em mình sẽ không theo kịp khi học tiểu học. Họ cho rằng việc học tập ở trường mầm non cũng quan trọng không kém việc phát triển các kỹ năng xã hội. Bởi thế mà một số nhà trẻ và trường mầm non bắt đầu dạy kỹ năng đọc và viết.

Một yếu tố nữa góp phần đề ra hướng mới trong giáo dục mầm non đó là sự cạnh tranh giữ các trường mầm non và nhà trẻ.Bởi vậy, một trong những cách để trở nên cạnh tranh hơn đó là cũng đưa việc học số và chữ cái vào chương trình giảng dạy. Cũng có những trường có những chương trình giảng dạy đặc biệt hàng tuần như nghệ thuật, võ judo, thư pháp hay nhiều môn đặc biệt khác.

Việc chú trọng vào học ngay từ bậc mầm non không nhận được sự đồng tình của các chuyên gia giáo dục và các nhà phê bình xã hội. Chú trọng đào tạo học tập ở giai đoạn này được coi là can thiệp vào sự phát triển các kỹ năng xã hội cũng như những thói quen hàng ngày của trẻ em. Hơn nữa, người ta tin rằng một số trẻ em khi nhâp học lớp 1 đã biết những kỹ năng học tập trong khi gần như không có những cơ hội để so sánh, điều này khiến giáo viên gặp khó khan hơn so với các học sinh lớp 1 chữa được học trước chương trình khác.

Lạ thay, những em có lợi thế được học trước tại trường mầm non đôi khi lại gặp phải những khó khăn riêng. Các trường tiểu không phân chia học sinh theo năng lực, bởi vậy những em học trước thường có cảm giác nhàm chán trong những tháng đầu đến lớp.

Sự kết hợp giữa việc học các kỹ năng đọc viết tại nhà, đặc biệt là việc tham gia và khóa đào tạo phổ cập mầm non. Sự kết hợp giữa các chương trình dạy đọc, viết ở nhà và ở trường mầm non đã tạo ra sự chênh lệch ngày càng lớn giữa giáo dục chính quy và và khả năng, hành trang thực tế theo trẻ em vào lớp một.


Nguồn:

Rèn luyện con cái ở Nhật Bản” by Phạm Thu Thủy, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Viện Đông Bắc Á, Oct 21, 2014

Nhật Bản và giáo dục tiền tiểu học”  by Phạm Thu Thủy, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Viện Đông Bắc Á, Jun 26,2014

Advertisements

Để lại bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s