Shinzo Abe đã thay đổi Nhật Bản như thế nào? (Bài 1/5) | Nhìn lại 8 năm

<Tờ Economist September 5 – 11ᵀᴴ 2020 đã có nhiều bài viết (5 bài) dành để nói về thủ tưởng Shinzo Abe và những câu chuyện về cuộc đời và di sản mà ông để lại sau khi ông tuyên bố từ chức thủ tướng Nhật Bản vào cuối tháng 8 vừa rồi. Loạt bài này xin phép dịch lại nội dung của những bài viết trên cho những độc giả quan tâm tại Việt Nam.>

Vào ngày 28/08/2020, Thủ tướng Abe chính thức tuyên bố từ chức vì lý do sức khỏe. Tính đến thời điểm tuyên bố, ông đã có hơn 2800 ngày liên tục nắm giữ ghế thủ tướng, vượt qua các kỷ lục đã được thiết lập trước đó. Ông cũng là người có tổng số ngày giữ ghế thủ tướng lâu nhất Nhật Bản (3179 ngày) và có lẽ phải rất rất lâu nữa người ta mới được chứng kiến kỷ lục này bị xô đổ. Hãy cùng nhìn lại những gì mà ông đã làm được và những di sản mà ông để lại qua gần 3 nhiệm kỳ của mình.

Ông Abe đưa ra thông báo từ chức vì những lý do liên quan đến sức khỏe, cụ thể là bệnh đại tràng. Điều lệ của đảng Dân chủ tự do Nhật Bản (LDP) không cho phép cá nhân cầm quyền quá 3 nhiệm kỳ (tức 9 năm), nhưng thực tế nhiệm kỳ thứ ba này của ông Abe phải đến tháng 9/2021 mới kết thúc. Như vậy, một lần nữa, giống như hồi năm 2007, ông Abe buộc phải từ chức sớm do sức khỏe không đảm bảo trong bối cảnh nền kinh tế mà ông đã dốc hết sức để hồi phục sau nhiều năm đình trệ, thì đang oằn mình trước dịch bệnh Covid-19. Một trong những mục tiêu tranh cử của ông là sửa lại Hiến pháp của Nhật Bản, làm sao để nâng cao tính chính danh cho quân đội Nhật Bản, thì không đi đến đâu cả. Mặt khác, Olympic Tokyo, vốn từng coi là điểm nhấn trong nhiệm kỳ của ông, thì đã chính thức bị dời lại. Mức độ tín nhiệm của ông cũng đang ở mức không mấy tích cực thời gian qua.

Japan’s Prime Minister Shinzo Abe Resigns in Poor Health | Time | Creator: Pool | Credit: Getty Images | Copyright: 2020 Getty Images

Nhìn chung, đây là một thời điểm u ám. Người kế nhiệm vị trí của ông Abe, dự kiến sẽ được các thành viên của đảng LDP chọn ra vào ngày 14 tháng 9 tới đây, sẽ phải đương đầu với các thách thức rất lớn đến từ virus corona, sự già hóa dân số của Nhật Bản và một Trung Quốc vốn đã đầy hiếm khích. Tuy vậy, những vấn đề này đã trở nên dễ xử lý hơn, nhờ có 8 năm của Thủ tướng Abe. Ông đã thực sự làm được rất nhiều hơn những gì được công chúng thừa nhận. Trước khi Covid-19 nổ ra, những quyết sách kinh tế Abenomics của ông được coi là một thành công (mặc dù vẫn còn chậm) trong việc chấn hưng lại nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Về các chính sách đối ngoại, nếu như Nhật Bản trước đây khá kín tiếng trước các diễn đàn quốc tế kể từ sau khi WW2 kết thúc, thì dưới thời Thủ tướng Abe, ông đã thúc đẩy những cải cách về mặt đối ngoại, và tăng cường vị thế của Nhật Bản dưới vai trò quan trọng và mang tính xây dựng tại châu Á và thế giới, điều vốn ít được các đời Thủ tướng trước đây làm được. Riêng về mặt này, di sản mà ông Abe để lại là rất ấn tượng, thay vì những “cuộc ra đi thầm lặng” như những người tiền nhiệm.

Nói thêm về kinh tế. Abenomics được đưa ra với mục tiêu đẩy lùi “giảm phát” và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường chi tiêu công, chính sách tiền tệ “phi truyền thống” và một số cải cách cấu trúc. Mặc dù mục tiêu đạt mức lạm phát 2% đầy tham vọng của Thủ tướng Abe không đạt được, nhưng ít nhất, cái mà ông làm được là đã đưa lạm phát dương trở lại. Trước khi nhậm chức, chỉ số giá của Nhật Bản đã giảm liên tục trong vòng 4 năm liên tiếp, và chỉ có duy nhất một lần tăng trong suốt 7 năm. Trong khi đó, kể từ thời điểm ông Abe nắm quyền đến nay, nền kinh tế đã có 71 tháng hồi phục, và năng suất lao động tăng nhanh hơn cả Hoa Kỳ.

Để đạt được điều này, ông Abe đã đưa vào thực thi các chính sách mà trước đây được cho là bất khả thi về mặt chính trị cũng như về mặt văn hóa. Đơn cử là trong các thỏa thuận liên quan đến Hiệp định đối tác Thái Bình Dương (TPP), một trong những hiệp định thương mại quan trọng và lớn nhất của Nhật Bản, chính quyền của thủ tướng Abe đồng ý cắt giảm thuế quan và nâng hạn ngạch nhập khẩu đối với các mặt hàng nông sản, bất chấp việc nông dân là một bộ phận cử tri quan trọng của đảng LDP và luôn được bảo hộ từ chính phủ. Số lượng phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động cũng đông hơn nhờ có các chính sách về trường trông trẻ/ mẫu giáo miễn phí (hiệu lực từ tháng 10/2019) và các chính sách hỗ trợ chăm sóc trẻ em. Phụ nữ Nhật Bản có thể sẽ có xu hướng đi làm nhiều hơn so với phụ nữ Hoa Kỳ. Mặt khác, số lượng lao động nước ngoài tại Nhật Bản đã tăng lên gấp đôi kể từ khi Thủ tướng Abe lên nắm quyền, bất chấp một số quan ngại trong nước về lao động nhập cư.

Quản lý doanh nghiệp tập đoàn cũng có những bước tiến đáng kể. Bây giờ gần như tất cả các công ty lớn đã niêm yết đều có ít nhất một giám đốc độc lập (so với tỷ lệ chỉ 40% hồi năm 2012). Điều này đã cải thiện đáng kể sự hấp dẫn của Nhật Bản trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ đó, thị trường chứng khoán Nhật Bản đã tăng điểm gấp đôi kể từ khi Thủ tướng Abe lên nắm quyền. Đây là một điều đáng mơ ước của nhiều đời thủ tướng trước đây.

Ảnh chụp ngày 19/1/2019 tại kỳ họp bộ trưởng của 11 nước thành viên TPP tại Tokyo với ông Shinzo Abe đứng thứ ba từ phải sang | mainichi.jp | Nguồn ảnh: Kyodo

Tất nhiên, nhiệm kỳ của ông không phải lúc nào cũng toàn một màu hồng, một số chính sách được đưa ra đã nhận phải nhiều phản ứng và chỉ trích từ công luận. Một trong số đó là việc hai lần tăng thuế tiêu thụ (năm 2014 lên 8% và 2019 lên 10%). Sau cả hai lần tăng, nền kinh tế đều rơi vào một khoảng thời gian ngắn bị suy thoái. Hoặc như vụ bê bối liên quan đến trường tiểu học Moritomo hồi năm 2017 đã để lại nhiều tai tiếng trong dư luận. Tuy nhiên, những lo ngại về sự phình to trong các khoản chi tiêu chính phủ có thể sẽ đẩy lãi suất lên cao đến mức vỡ nợ, hay lo ngại rằng chính sách lãi suất âm của Ngân hàng trung ương sẽ khiến các ngân hàng lớn của Nhật gặp nhiều khó khăn, hóa ra lại không trở thành sự thực.

Thủ tướng Abe còn vượt xa nhiều kỳ vọng với tài ngoại giao vô cùng khôn khéo và sắc sảo. Là cháu nội của một trong những vị kiến trúc sư cho cỗ máy chiến tranh của Đế quốc Nhật Bản – ông Kan Abe, và cũng tự nhận mình là một người có phần ủng hộ chủ nghĩa dân tộc, Thủ tướng Shinzo Abe được kỳ vọng sẽ đối đầu trực tiếp với Trung Quốc trong khi có phần xa lánh các đồng minh của Nhật Bản. Trên thực tế, trong suốt thời gian tại vị, ông luôn vướng vào những rắc rối liên quan đến Hàn Quốc. Tuy nhiên, trong những lĩnh vực khác, ông tỏ ra khôn khéo hơn trong việc lôi kéo các chính phủ khác trong khu vực, ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc về mặt quân sự và kinh tế, mà không làm “chọc giận” Trung Quốc. Khi Hoa Kỳ đơn phương rút khỏi hiệp định TPP, chính Thủ tướng Abe là người đã hàn gắn lại và duy trì sự sống cho hiệp định này. Ông cũng tăng cường hợp tác quân sự với các đồng minh dân chủ khác như Australia và Ấn Độ. Ông tỏ ra tương đối thân thiện với Tổng thống Trump, nhưng cũng có mối quan hệ tương đối tích cực với Tổng bí thư Tập Cận Bình. Thậm chí, ông Tập dự kiến đã có một chuyến thăm đến Nhật Bản vào tháng 4, nếu không có Covid-19.

Mặc dù khát vọng thay đổi Hiến pháp không thay đổi được, nhưng ông Abe đã làm cho   người ta phải nhớ lại về sức mạnh và sự tín cậy của một cường quốc. Chi tiêu cho quân đội, vũ trang tăng lên, đồng thời ông cũng thúc đẩy những thay đổi pháp lý nhằm tạo điều kiện để lực lượng phòng vệ Nhật Bản tham gia các hiệp ước phòng thủ chung, hay các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình. Ông cũng tỏ ra cứng rắn trước những khiêu khích của Trung Quốc, liên quan đến những tranh chấp về chủ quyền biển đảo của hai quốc gia cũng như tại biển Đông.

New Straits Times | Japan ruling party sets Sept 14 vote on PM Abe’s successor | Nguồn ảnh: AFP

Sự rời nhiệm sở của ông Abe cũng sẽ gây nên những áp lực rất lớn cho người kế nhiệm. Việc dân số giảm và già hóa nhanh chóng sẽ buộc các nhà làm chính sách làm sao để đưa càng nhiều người vào lực lượng lao động càng tốt và gia tăng năng suất lao động. Mặc dù số lượng phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động đang tăng, nhưng văn hóa làm việc “trọng nam khinh nữ” vẫn còn đó, và gây cản trở đến sự thăng tiến của phụ nữ, khiến họ không thể phát huy tốt nhất khả năng của mình. Sự phân biệt đối xử giữa những việc làm chính thức và việc làm bán thời gian cũng gây ra những sự kém hiệu quả trên thị trường việc làm. Điện tử hóa các công việc thủ tục hành chính vẫn còn ở mức thấp nếu so với các quốc gia phát triển khác. Ngoài ra, Nhật Bản cũng cần đẩy mạnh tiến triển trong việc “phủ xanh” năng lượng sạch.

Mặc dù ông Abe ra đi để lại rất nhiều những việc chưa hoàn thành, nhưng ông cũng đã không quên truyền lại những công cụ để người kế nhiệm hoàn thành những công việc đó. Có lẽ, di sản quan trọng nhất nhưng ít được biết đến nhất mà ông để lại chính là việc ông đã làm Nhật Bản dễ “trị” hơn. Ông đã trấn áp được một số thành phần thủ cựu trong nội bộ đảng LDP, vì họ mà các đời thủ tướng trước đây thường chết yểu hoặc vấp phải rất nhiều sự hạn chế về mặt hành pháp. Ông cũng cải cách lại sự quan liêu trong chính trường Nhật Bản, những người luôn điều hành công việc theo ý của họ khi mà giới chóp bu liên tục thay đổi, thì giờ họ phải nghe theo lời của “người nắm quyền” nhiều hơn.

Kinh tế Nhật Bản vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Tuy nhiên, nếu như vị Thủ tướng tiếp theo có thể thành công và đạt được một thành tựu nào đó, có lẽ họ nên dành những lời cảm ơn cho những di sản mà ông Shinzo Abe đã để lại.

(còn tiếp)


Nguồn:

The Economist số September 5 – 11ᵀᴴ 2020

Abe Shinzō Becomes Japan’s Longest-Serving Prime Minister, nippon.com đăng ngày 20/11/2019

Để lại bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.